Essays · Olfactory Art

Exposition Internationale du Surréalisme.

Trong bóng tối, cái mũi dẫn đường.

In the dark, the nose leads the way.

Ảnh tư liệu Exposition Internationale du Surréalisme 1938 tại Galerie Beaux Arts, Paris: phòng chính với những bao than treo trên trần

Archival photo 1938, reprinted in Stedelijk Studies (Stedelijk Museum Amsterdam) · Koregos (Revue et encyclopédie multimédia des arts)


Paris, tháng 1 năm 1938

Exposition Internationale du Surréalisme khai mạc tối 17 tháng 1 năm 1938 tại Galerie Beaux Arts, Paris, và kéo dài tới cuối tháng 2. Người tổ chức là André Breton và Paul Éluard, hai gương mặt trung tâm của nhóm Siêu thực. Danh sách nghệ sĩ tham gia có nhiều tên tuổi của phong trào, trong đó có nhà thơ Benjamin Péret.

Việc dựng không gian được giao cho Marcel Duchamp. Theo bài nghiên cứu của Margaux Van Uytvanck trên Koregos, ông nhận danh xưng générateur arbitre, người khởi xướng ý tưởng và người phân xử. Man Ray được gọi là người phụ trách ánh sáng.

Duchamp khi ấy đã nổi tiếng với những readymade, những vật bán sẵn được đưa vào phòng trưng bày. Lần này, thứ ông đưa vào không phải một vật, mà là cả một môi trường: bóng tối, bụi than, cát, lá khô, âm thanh, và mùi.

Bao than trên trần, lá khô dưới sàn

Phòng chính là nơi Duchamp can thiệp nhiều nhất. Từ trần nhà, ông treo 1.200 bao than. Theo Koregos, ý định ban đầu là treo khoảng một trăm chiếc ô, nhưng không làm được. Những bao than hạ thấp trần, biến căn phòng thành một thứ gần như hang động. Bụi than có khi rơi xuống người xem.

Ở giữa phòng là một lò than hồng. Sàn phủ cát và lá khô. Bốn góc phòng là bốn chiếc giường chưa dọn. Có một cái ao nhỏ viền dương xỉ. Có những cánh cửa xoay được dùng để treo tác phẩm.

Giếng trời bị che lại để phòng gần như tối hẳn. Người xem được phát đèn pin để tự rọi vào tác phẩm mình muốn xem. Theo Koregos, những chiếc đèn pin biến mất ngay trong đêm khai mạc, và sau đó phòng phải lắp đèn cố định. Âm thanh cũng là một phần của không gian: tiếng duyệt binh và những tràng cười được ghi âm sẵn.

Mùi cà phê rang

Trong phòng tối ấy, cà phê được rang trên một bếp điện. Mùi cà phê rang lan khắp triển lãm. Tên gọi gắn với mùi này là odeurs du Brésil, những mùi của Brazil.

Ngày nay, đây thường được nhắc tới như một trong những lần đầu tiên mùi được dùng có chủ đích như chất liệu của thiết kế triển lãm. Trước đó, phòng trưng bày là nơi của mắt. Không khí trong phòng được coi là trung tính, và càng trung tính càng tốt. Ở đây, không khí có nội dung.

Mùi cà phê là một lựa chọn đáng để ý. Nó không lạ. Nó là mùi của quán, của bếp, của buổi sáng ở Paris. Đặt vào một căn phòng tối có bao than treo đầu và lá khô dưới chân, mùi quen thuộc ấy trở nên lạ. Đó chính là cách nhìn của Siêu thực: lấy thứ quen, đặt sai chỗ, để nó đổi nghĩa.

Vì sao triển lãm này còn được nhắc

Triển lãm năm 1938 thường được xem là một mốc của thiết kế triển lãm hiện đại. Người xem không còn đứng ngoài nhìn vào. Họ đi trong tác phẩm, dò đường bằng đèn pin, giẫm lên lá khô, nghe tiếng động, và ngửi.

Có một mối nối nhỏ với những việc Duchamp làm trước đó. Trong triển lãm có một ma nơ canh được trang điểm thành Rrose Sélavy, bản ngã nữ của ông. Mười bảy năm trước, gương mặt ấy đã nằm trên nhãn một lọ nước hoa, trong tác phẩm Belle Haleine, Eau de Voilette. Năm 1921, mùi là một cái tên trên chai. Năm 1938, mùi đã là một phần của không khí.

Nhiều thập kỷ sau, các bảo tàng mới dần quen với ý tưởng rằng một tác phẩm có thể cần được ngửi. Những căn phòng có mùi của nghệ thuật đương đại, từ quán bar của Kienholz đến các sắp đặt khứu giác ngày nay, đều có một tiền bối trong căn phòng tối đầy mùi cà phê ở Paris.


Paris, January 1938

The Exposition Internationale du Surréalisme opened on the evening of January 17, 1938, at the Galerie Beaux Arts in Paris and ran until late February. It was organised by André Breton and Paul Éluard, the two central figures of the Surrealist group. The list of participants included many names from the movement, among them the poet Benjamin Péret.

The staging was entrusted to Marcel Duchamp. According to Margaux Van Uytvanck's study on Koregos, he took the title générateur arbitre, generator of ideas and referee. Man Ray was named master of lights.

Duchamp was already known for his readymades, shop bought objects brought into the gallery. This time he brought in not an object but an environment: darkness, coal dust, sand, dead leaves, sound, and smell.

Coal sacks above, dead leaves below

The main hall is where Duchamp intervened most. From the ceiling he hung 1,200 coal sacks. According to Koregos, the first idea was to hang around a hundred umbrellas, which proved impractical. The sacks lowered the ceiling and turned the room into something like a cave. Coal dust sometimes fell on visitors.

At the centre stood a brazier. The floor was covered with sand and dead leaves. In each corner was an unmade bed. There was a small pond edged with ferns. Revolving doors were used to hang works.

The skylight was blocked so the room was almost dark. Visitors were given torches to light whichever works they wished. According to Koregos, the torches disappeared on opening night, and fixed lighting was installed afterwards. Sound was part of the space too: a military parade and recorded laughter.

The smell of roasting coffee

In that dark room, coffee was roasted on an electric heater. Its smell spread through the exhibition. The name attached to it was odeurs du Brésil, the smells of Brazil.

Today this is often cited as one of the first deliberate uses of smell as a material of exhibition design. Before, the gallery belonged to the eye. The air in the room was meant to be neutral, the more neutral the better. Here, the air had content.

Coffee is a telling choice. It is not exotic. It is the smell of cafés, kitchens, Paris mornings. Placed in a dark room with coal sacks overhead and dead leaves underfoot, the familiar smell turns strange. That is the Surrealist method: take the familiar, put it in the wrong place, let it change meaning.

Why it is still remembered

The 1938 show is often seen as a landmark of modern exhibition design. Visitors no longer stood outside looking in. They moved through the work, found their way by torchlight, stepped on leaves, heard noises, and smelled.

There is a small link to Duchamp's earlier work. The exhibition included a mannequin dressed as Rrose Sélavy, his female alter ego. Seventeen years earlier, that face had appeared on a perfume label in Belle Haleine, Eau de Voilette. In 1921, scent was a name on a bottle. In 1938, it was part of the air.

It took museums decades to grow used to the idea that a work might need to be smelled. The scented rooms of contemporary art, from Kienholz's bar to today's olfactory installations, all have a forerunner in that dark Paris room full of coffee.