Essays · Olfactory Art

Piesse. Thang âm của mùi.

Mượn chữ của âm thanh để nói về mùi.

Borrowing the words of sound to speak of smell.

Bảng thang mùi của Piesse in trên hai khuông nhạc trong The Art of Perfumery năm 1862

Piesse và The Art of Perfumery

George William Septimus Piesse sống từ năm 1820 đến năm 1882. Ông là nhà hoá học và người làm hương ở London, đồng sáng lập hãng Piesse & Lubin. Năm 1855, nhà Longman in cuốn The Art of Perfumery của ông. Hai năm sau, một bản in ở Philadelphia ra đời; bản ấy nay nằm trên Project Gutenberg, nên nhiều nơi ghi năm 1857.

Cuốn sách là một cẩm nang nghề: nguyên liệu, công thức, cách làm nước hoa, xà phòng, bột thơm. Nhưng giữa những công thức, trong bản đầu tiên, có một đoạn văn ngắn khác hẳn phần còn lại.

Piesse viết rằng mùi tác động lên dây thần kinh khứu giác theo những bậc nhất định, giống như âm thanh lên tai. Có một quãng tám của mùi. Hạnh nhân, heliotrope, vani và hoa cam cho cùng một ấn tượng. Citron, chanh, vỏ cam và cỏ roi ngựa làm thành một quãng cao hơn. Hoa hồng và phong lữ hồng cách nhau nửa cung.

Ý ấy lớn dần qua các lần tái bản. Năm 1862, bản in thứ ba ở London dành hẳn một chương cho nó, kèm một bảng in trên khuông nhạc. Năm 1887, con trai ông là Charles Piesse đặt cho thang này một cái tên: odophone.

Thang 46 mùi trên hai khoá nhạc

Bảng năm 1862 xếp 46 mùi lên hai khuông. Khoá Sol đi từ nốt Fa cao nhất, là xạ cầy, xuống violet. Khoá Fa đi từ hoa hồng xuống nốt Đô thấp nhất, là hoắc hương. Piesse viết rằng không có mùi nào trong phòng thí nghiệm mà ông không gán được một phím.

Cách dễ đọc nhất là gom các mùi cùng tên nốt. Trên nốt Rê, vani, heliotrope và hạnh nhân nằm cùng nhau, đúng như nhóm mà đoạn văn năm 1855 đã gọi là cùng một ấn tượng. Trên nốt Đô, gần hoắc hương, đàn hương, phong lữ, hoa hồng ở khoá thấp là long não, hoa nhài và dứa ở khoá cao.

Theo Piesse, những mùi tạo thành hợp âm với nhau sẽ cho một bó hương hài hoà. Ông in vài công thức bó hoa viết như hợp âm. Ông còn dùng lý lẽ ấy trong xưởng: vani được chọn để giữ mùi hoa cam vì hai thứ nằm cùng một phím, nên khi mùi nhạt dần trên khăn tay, nó không trượt sang một ý khác.

Trật tự cao thấp không luôn theo độ bay hơi. Hoắc hương, vani và benzoin nằm ở đáy khoá Fa, hợp với cảm giác nặng. Nhưng xạ cầy, một chất lưu rất lâu, lại là nốt cao nhất.

Vì sao bảng không đứng được về khoa học

Âm thanh có một đại lượng đo được là tần số. Một quãng tám là tần số tăng gấp đôi, nên nốt Đô ở hai quãng tám khác nhau thật sự có quan hệ với nhau. Mùi không có đại lượng nào như thế. Chỗ của một mùi trên thang của Piesse chỉ dựa vào mũi của ông, và ông không nêu cách nào để người khác kiểm lại.

Năm 1916, nhà tâm lý học Hans Henning ghi rõ rằng trong mùi không có sự lặp lại kiểu quãng tám. Năm 1991, Linda Buck và Richard Axel mô tả một họ gen lớn mã hoá thụ thể mùi; người có khoảng bốn trăm thụ thể còn hoạt động, và mỗi mùi được nhận ra qua một tổ hợp của chúng. Không có một trục đơn nào để xếp mùi từ thấp lên cao.

Từ vựng mượn: nốt, hợp âm, hoà âm

Thang mùi không còn được dùng. Cách nói thì còn. Chương năm 1862 đã có đủ bộ chữ: phím, nốt, hợp âm, hài hoà, nghịch tai. Người làm hương ngày nay vẫn nói về nốt, và gọi một nhóm nguyên liệu hoà thành một ấn tượng mới là một accord, chữ tiếng Pháp cho hợp âm.

Không có bằng chứng rõ rằng chữ nốt trong nghề hương đi thẳng từ Piesse mà ra. Nhưng cách ông dùng chữ năm 1862 rất gần với cách người trong nghề nói về sau.

Có lẽ giá trị của Piesse nằm ở chỗ khác với điều ông tuyên bố. Ông không tìm ra vật lý của mùi. Ông đưa ra một ngôn ngữ chung cho những người làm việc với mùi, trong một nghề trước đó chủ yếu truyền miệng. Một khuông nhạc sai về khoa học vẫn có thể là một công cụ đúng cho việc trò chuyện.


Piesse and The Art of Perfumery

George William Septimus Piesse lived from 1820 to 1882. He was a chemist and perfumer in London, co-founder of the house Piesse & Lubin. In 1855 Longman published his The Art of Perfumery. Two years later a Philadelphia edition appeared; it is the one now on Project Gutenberg, which is why many sources give 1857.

The book is a trade manual: materials, recipes, methods for perfumes, soaps and scented powders. But among the recipes of the first edition sits a short passage unlike the rest.

Piesse writes that odours act on the olfactory nerve in definite degrees, as sounds act on the ear. There is an octave of odours. Almond, heliotrope, vanilla and orange flower give one impression. Citron, lemon, orange peel and verbena form a higher octave. Rose and rose geranium are a semitone apart.

The idea grew through later editions. In 1862 the third London edition gave it a chapter and a table printed on staves. In 1887 his son Charles Piesse gave the scale a name: the odophone.

Forty six odours on two clefs

The 1862 table places 46 odours on two staves. The treble runs from a top F, civet, down to violet. The bass runs from rose down to the lowest C, patchouli. Piesse wrote that there was no odour in the laboratory to which he could not assign a key.

The easiest way to read it is to gather odours by note name. On D, vanilla, heliotrope and almond sit together, the same group the 1855 passage had called one impression. On C, near patchouli, sandalwood, geranium and rose in the bass, are camphor, jasmine and pineapple in the treble.

For Piesse, odours that form a chord make a harmonious bouquet, and he printed a few bouquet recipes written as chords. He used the logic at the bench too: vanilla fixes orange flower because both sit on one key, so as the scent fades on a handkerchief it does not drift into another idea.

High and low do not consistently follow volatility. Patchouli, vanilla and benzoin lie at the bottom of the bass, which suits their weight. Yet civet, one of the longest lasting materials, is the highest note of all.

Why the scale does not stand as science

Sound has a measurable quantity, frequency, and an octave is a doubling of it, so a C in two octaves is truly related. Smell has no such quantity. A place on Piesse's scale rests only on his own nose, and he gave no way for anyone else to check it.

In 1916 the psychologist Hans Henning noted that smell shows no octave repetition. In 1991 Linda Buck and Richard Axel described a large gene family for odorant receptors; humans have about four hundred working receptors, and each smell is recognised through a combination of them. There is no single axis on which smells run from low to high.

A borrowed vocabulary: note, chord, harmony

The gamut is no longer used. The way of speaking survived. The 1862 chapter already had the full set of words: key, note, chord, harmony, discord. Perfumers still speak of notes, and call a group of materials that blend into a new impression an accord, the French word for chord.

There is no clear evidence that the perfumer's word note descends directly from Piesse. But his usage in 1862 is very close to how the trade later spoke.

Perhaps his value lies somewhere other than where he claimed it. He did not find the physics of smell. He offered a common language to people who worked with smell, in a craft that until then passed mostly by word of mouth. A stave that is wrong as science can still be a right tool for conversation.